Bỏ qua nội dung chính

trangtin

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Ve-Book
Đăng ký thẻ bạn đọc
Sản phẩm thông tin
Hướng dẫn
Quan tri CMs
  

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin
Chào Mừng Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20-10 Thứ Tư, 21/10/2015, 08:15

Vai trò, địa vị của người Phụ nữ Việt qua các thời kỳ lịch sử

Ở nước ta chế độ mẫu hệ xuất hiện trong thời Hậu kỳ đồ đá cũ (khoảng 40 đến 11 ngàn năm cách ngày nay). Đây là thời kỳ địa vị của người phụ nữ được kính trọng hơn đàn ông, do con sinh ra chỉ biết mẹ đứa bé và người đàn ông chưa nắm quyền chi phối về kinh tế khi họ cũng chỉ sản xuất bằng hoặc thậm chí không bằng phụ nữ, người phụ nữ đảm nhiệm việc hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi sơ khai và phân phối thức ăn cho cả thị tộc, qua đó giữ quyền chi phối thị tộc, điều khiển công việc và điều hòa quan hệ giữa các thành viên. Có thể nói chính chế độ quần hôn của “thời đại mông muội” và loại hình kinh tế săn câu lượm hái của thời nguyên thuỷ đã làm cho cho vai trò của người phụ nữ trong gia đình và thị tộc trở nên trọng yếu.

Cùng với sự phát triển của lịch sử thì xã hội thị tộc mẫu hệ dần phải nhường chỗ cho xã hội phụ hệ, trong đó vai trò người đàn ông là chính, là quyết định. Đặc biệt, bước sang thời kỳ phong kiến với sự du nhập của tư tưởng Nho gia thì địa vị của  người phụ nữ trong gia đình và xã hội chỉ còn được gói trọn qua ba trạng thái “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” có nghĩa là cả ba giai đoạn của đời người thời thơ ấu, khi trưởng thành, lúc xế chiều chỉ gói gọn trong hai chữ phục tùng. Gia đình luôn được xem là cái lõi của Nho gia thế nhưng Nho gia chưa bao giờ coi phụ nữ là trung tâm của gia đình và xã hội, mà chỉ được xem như là một bộ phận bên lề, trở thành một cái bóng ủ dột đến tội nghiệp trong chính gia đình mình. Phụ nữ ngày xưa không được đến trường vì cái lẽ đương nhiên là không bao giờ  “đái qua ngọn cỏ”, trong khi đó đàn ông có quyền lực gần như vua trong cái “lãnh địa” có tên gọi là gia đình. Quanh năm, suốt tháng mọi việc dù giỗ, tết trong làng hay ở họ người đàn ông vẫn là đại diện duy nhất có bổn phận đại diện cho gia đình, và thế là mặc sức rong chơi với những cuộc nhậu mà không cần biết vợ con mình ở nhà ăn gì, nghĩ gì

Trong thời kỳ phong kiến, người đàn ông luôn phấn đấu để trở thành mẫu người quân tử  với vai trò là “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”và đây gần như là một nguyên tắc bởi vậy mọi hành động đi ngược lại quyền lực của người đàn ông được coi  là tội lỗi, sự phản kháng của người phụ nữ gần như là con số không, cho nên cam chịu và lặng lẽ của đa số những người phụ nữ đôi khi vẫn được hiểu sai là sự dịu dàng. Hàng ngàn năm Nho đã tước bỏ lâu dài mong ước được bày tỏ của người phụ nữ dù chỉ là một nổi niềm, họ chỉ được phép nhận những gì đàn ông có thể cho chứ không thể ngược lại, càng ở tầng lớp dưới trong xã hội, sự bất công càng lớn. Ở thời kỳ này, cái tuyệt vọng và cay nghiệt đối với số phận của người phụ nữ còn ở vấn đề sinh con, đẻ cái với quan niệm của xã hội là “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”(trong ba điều bất hiếu cái lớn nhất là không có con để nối dõi tông đường) chuyện sinh con trai hay gái là chuyện của chuyện đó, chuyện may rủi thế nhưng đối với nho giáo lại xem tội lỗi này thuộc về người phụ nữ chứ không phải đàn ông. Rồi những người phụ nữ không may mắn đó chỉ biết suy sụp rất nhanh trước sự vô tri của thời gian, họ chẳng biết làm gì hơn khi không sinh con trai theo đúng “đơn đặt hàng” của xã hội. Chế độ đa thê tồn tại hàng ngàn năm đã để lại nhiều di hại khó gột rửa, vai trò của người đàn ông trong gia đình và xã hội đã tạo ra lợi thế để xác lập chế độ gia trưởng, người phụ nữ chỉ biết phục tùng với chức phận nấu cơm, sưởi ấm và … đẻ con. Bị trói buộc với vô vàn các bổn phận và nghĩa vụ như không được ăn cơm cùng mâm với chồng, không được lên nhà thờ thắp nhang lúc “đến tháng”, phải chịu đựng rất lâu, thật nhiều tình cảnh “ông ăn chả” mà bà không có điều kiện để “ăn nem”. Chế độ đa thê đã loại trừ lâu dài bóng dáng thần tình yêu ra khỏi cuộc sống, sẽ không ngạc nhiên khi vị thần Tình yêu vắng bóng ở Việt Nam và cả phương Đông nhưng là vị thần số một của văn minh phương Tây. Người Pháp có câu “phải có hai người mới có thể khen trời đẹp” thế nhưng ở nước ta trong suốt ngàn năm phong kiến chỉ thấy bóng dáng của một người.

 

Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mang đến cho người phụ nữ Việt Nam một món quà vô giá. Nhà nước chính thức khẳng định quyền bình đẳng không phân biệt giới tính nam nữ. Tuy nhiên, từ đó cho đến nay ý thức bảo thủ của Nho giáo được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ vẫn tiếp tục chi phối các mối quan hệ người đàn ông vẫn tiếp tục đi sớm về muộn, có thể tham gia bất kỳ cuộc vui nào để cũng rong chơi với rượu, bia và hát mãi khúc ca “trăm năm bia đá cũng mòn, bia chai cũng vỡ chỉ còn bia ôm”... trong khi ấy chắc chắn gia đình sẽ tan vỡ nếu vài ba lần người phụ nữ đi chơi về nhà hơi khuya một chút; phụ nữ vẫn phải nhường nhịn, hy sinh cho chồng nhiều hơn những gì họ đáng được hưởng và tiếp tục buồn tủi trước sự ích kỷ, ngạo mạn của đàn ông nói chung, mặc dù trong xã hội hiện nay các Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10, Ngày Gia đình hạnh phúc 20/3 luôn được tổ chức trang trọng và hân hoan trên những bàn nhậu mà chiếm đa số thường là đàn ông... Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Quốc hội nước ta thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 để đảm bảo pháp luật sẽ trừng trị cả chồng, hoặc vợ nếu thể hiện hành động bạo lực trong gia đình nhưng chắc chắn một điều rằng thiệt thòi vẫn thuộc về phụ nữ như nó vẫn thế từ lâu rồi.

 

Đất nước sẽ tiếp tục phát triển, địa vị của người phụ nữ chắc chắn rồi cũng khác xưa, ngày càng gia tăng theo tốc độ phát triển của nền văn minh, được coi trọng và bình đẳng với nam giới, họ đã khẳng định một điều chắc chắn rằng  họ có thể gánh vác những trọng trách lớn của đất nước của gia đình và mọi vấn đề khác trong xã hội như các bà: Tòng Thị Phóng – Phó Chủ tịch Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, bà Nguyễn Thị Doan – Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam và còn rất nhiều người nữa. Trong rất nhiều gia đình Việt Nam hiện nay người phụ nữ đã có một vị trí đáng kể về mặt thu nhập kinh tế, họ ít khi là lao động chính, vai trò đóng góp về kinh tế có thể là không nhiều nhưng khả năng “tích lũy” và “cầm giữ” là vấn đề trọng yếu của họ trong bài toán thu - chi của cuộc đời. Ước muốn thay đổi cái cũ đã nhàm chán là thuộc tính muôn đời nhưng chỉ đến bây giờ người phụ nữ mới thực sự có phương tiện hiệu quả và cần thiết./.

 Hồng Hạnh

 

 

 


Số lượt người xem: 1709 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày