Bỏ qua nội dung chính

trangtin

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Ve-Book
Đăng ký thẻ bạn đọc
Sản phẩm thông tin
Hướng dẫn
Quan tri CMs
  

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin
Những Nhà Giáo Tiêu Biểu Việt Nam Thứ Ba, 24/11/2015, 09:45

NGUYỄN BỈNH KHIÊM – BẬC THẦY CỦA THẾ KỶ XVI

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 -1585), quê ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Nguyễn Bỉnh Khiêm là con của ông Nguyễn Văn Định và bà họ Nhữ (con gái của Thượng thư Nhữ Văn Lan) - một người phụ nữ có học vấn, tinh thông việc tướng số. Từ nhỏ Nguyễn Bĩnh Khiêm đã được mẹ dạy làm thơ quốc âm, đem tứ thư, ngũ kinh ra giải nghĩa cho, ông học đến đâu nhớ đến đó. Khi lớn lên, nghe tin ở Thanh Hoá có Bảng nhãn Lương Đắc Bằng là người hay chữ nên ông đã tìm vào để thỉnh giáo. Sau khi học ở nhà thầy Lương Đắc Bằng, ông đi thi và đỗ Trạng nguyên khoa thi năm 1535. ông được nhà Mạc bổ làm Tả Thị Lang bộ Lại. Năm 1542, ông dâng sớ hạch tội 18 tên gian thần nhưng không được chấp nhận nên cáo quan về ở ẩn. Sau đó, nhà Mạc lại mời ông ra làm Thượng thư bộ Lại rồi làm Thái phó tước Trình Quốc công. Vì vậy nhân dân thường gọi ông là Trạng Trình. Năm 70 tuổi ông xin về hưu rồi ở quê cho đến lúc mất.

Đi sâu vào cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách là một thầy giáo, người ta thấy rằng ông là một ngưòi thầy theo đúng nghĩa, ông thực sự mở trường lớp, thu nhận học trò và đặc biệt là có đường lối và phương pháp giáo dục riêng. Nếu Nguyễn Trãi là người cô đúc luân lý đạo đức truyền thống cứu nước Việt Nam thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là người phát biểu những quan điểm triết học truyền thống đó. Thơ Nôm của ông diễn đạt những triết lý xuất phát từ cuộc sống của nhân dân lao động và đã hình thành được một tư tưởng duy vật thực tiễn. Có thể nói, ông là người Việt Nam đầu tiên nêu ra những phạm trù triết học như: đầy vơi, họa phúc, thua được, dữ lành... Bằng cách bám sát cuộc sống lao động, ông đã khám phá được những mâu thuẫn và sự tương quan giữa các sự vật. Từ những sự khám phá đó, ông đã vạch ra đường hướng cho nhân dân. Bởi vậy mà các tập đoàn phong kiến đều tìm đến ông để xin những lòi chỉ dẫn sáng suốt. Trong con mắt của chế độ phong kiến cũng như của nhân dân lao động ông là bậc tôn sư, là ngưòi thầy tài cao đức trọng.

Bản thân cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một bài học đẹp đẽ. Ông sống cuộc sống nhàn tản nhưng không tách khỏi thế sự. Ông tuy lánh đời nhưng vẫn luôn quan tâm đến việc đời. Ông lên tiếng phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, ông chỉ trích sự bành trướng của đồng tiền và luôn sống như những gì mình nói. Tuy nhiên ông không cố chấp, không khư khư sống theo chủ trương mù quáng. Rõ ràng ông làm tôi cho nhà Lê nhưng vẫn giúp nhà Mạc, hướng dẫn cho chúa Trịnh, chúa Quyền. Thế mà những lời giảng giải của ông đều được chấp nhận mà không hề có sự nghi kỵ, mỉa mai. Đó chính là chỗ mang ý nghĩa giáo dục trong lịch sử. Khi nhà Lê suy đốn và bị nhà mạc cướp ngôi, thời thế rối rem, nhân dân cực khổ muôn phần, Nguyễn Bỉnh Khiêm trút tâm sự qua những dòng thơ như:

 

Non sông nào phải buổi bình thời,

Thù đánh nhau chi khéo nực cười.

Cá vực chim lồng ai khiến đuổi,

Núi thây, sông máu thảm đầy nơi

 

Ngao ngán trước cuộc chiến tranh phi nghĩa của thế lực phong kiến, sau khi thầy Lương Đắc Bằng ra kinh đô theo lời triệu của vua Lê Tương Dực (1509-1516) thì Nguyễn Bỉnh Khiêm trở về quê và dẫn theo con của thầy là Lương Hữu Khánh để rèn luyện cho nên người. Cuộc đời dạy học của ông bắt đầu từ những năm tháng này (1510). Trong hơn hai mươi năm dạy học, thầy đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Có thể kể đến như Lương Hữu Khánh sau khi thi đỗ cử nhân ra phò Lê, chống Mạc đến làm Thượng thư bộ binh, tước Đạt Quận Công: Phùng Khắc Khoan được nhân dân tôn là Trạng Bùm; hoặc Nguyễn Dữ tác giả của Truyền kỳ mạn lục được người đời sau khen “thiên cổ kỳ bút”. Số học trò giỏi của thầy rất nhiều, thầy dạy rất nghiêm. Trong phương pháp sư phạm, qua những truyền thuyết còn chép lại, chúng ta thấy thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ trương khuyến khích học trò tự động não, tự tìm cách giải quyết thích hợp nhất. Chẳng hạn, khi biết nhà Lê đang trung hưng, trong đêm tối thầy đến đập của nhà học trò Phùng Khắc Khoan và nói: - Gà đã gáy rồi , sao không ngồi dậy thổi cơm ăn, còn nằm mãi đó ư?

Phùng biết ý thầy, liền trở dậy lạy tạ thầy rồi khăn gói lên đường. Quả nhiên về sau, Phùng trở thành công thần bậc nhất của nhà Lê, được phong tước Mai Quận Công. Thầy còn đem những lời nhân nghĩa ra để dạy học trò: Trăm họ được yên lành thì đạo trị nước được yên lành. Mất ngàn vàng chứ không để mất lòng người. Những lời dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Trước kia, Chu Văn An đã dâng "Thất trảm sớ" rồi cáo quan về dạy học. Nay Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dâng sớ kể tội 18 tên gian thần rồi quay về quê cũ. Thầy cùng học trò dựng am Bạch Vân làm trường. Thầy đã dạy học trò rằng: “Trung với vua, hiếu với cha, thuận anh em. Hòa vợ chồng, tín bạn bè, đó là trung”. Thầy còn dạy: “chớ cho rằng điều thiện nhỏ mà không làm, vì việc làm điều thiện nhỏ là chủ yếu để mở đường làm thiện. chớ cho rằng điều ác nhỏ mà cứ làm, vì không làm điều ác nhỏ là cẩn thận trong từng cái nhỏ nhặt”. Có thể khẳng định thơ văn của thầy là những giáo trình quý báu trong việc giảng giạy của thầy. Khi dạy học ở am Bạch Vân, thầy có hiệu Bạch Vân cư sĩ. Tiếng tăm của thầy vang dội cả nước. Các họ Trịnh, Mạc, Lê đều tìm đến thầy để xin lời chỉ giáo về những việc hệ trọng.

Những người đã từng sống trong xã hội xưa mới thấy hết được những hy vọng lớn lao mà nhân dân gửi gắm vào người thầy. Thầy không chỉ là người dạy chữ nghĩa Thánh hiền cho con trẻ mà còn là vị cố vấn cho toàn bộ nhân dân về tất cả những vấn đề của cuộc sống. Thầy có thể làm thầy thuốc khi nhân dân bị bệnh, khi có tang ma người dân cũng đến nhờ thầy chỉ dạy, khi có lễ tiết lại đến hỏi thầy các nghi thức... Người ta cũng hỏi thầy giờ tốt giờ xấu, xem tuổi cưới vợ gả chồng, dựng nhà dựng bếp... Nói chung thầy là một cuốn từ điển bách khoa sống đối với nhân dân. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đáp ứng được sự mong đợi đó của nhân dân. Người đời nay không biết rõ nội dung giao tiếp của ông với nhân dân nhưng qua thơ văn của ông ta cũng có thể rõ được phần nào. Bằng vốn văn hoá phong phú, ông đã cô đúc được rất nhiều triết lý về cuộc sống. Ông nêu ra được những phạm trù biện chứng, ông giáo dục đạo đức làm người và phê phán những thói hư tật xấu. Nhưng cho dù khen chê hay dạy dỗ thì ngôn ngữ, phong cách và tư tưởng của ông vẫn rất bình dị, gần gũi. Đó cũng là một khía cạnh đáng quý trong con người ông.                               

 

                                                                                                                                                            Nguyễn Yên

 

 

 

 

 


Số lượt người xem: 1456 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày